1. Về đối tượng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Điều 80 luật BHXH, BHTN là loại bảo hiểm áp dụng bắt buộc đối người lao động và người sử dụng lao động theo quy định pháp luật về bảo hiểm. Về đối tượng đóng BHTN được quy định cụ thể như sau:

- Theo khoản 3 Điều 2 (Luật BHXH) và khoản 1 điều 2 Nghị định 127/2008/NĐ-CP thì người lao động tham gia BHTN là công dân Việt Nam giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng; hợp đồng lao động không xác định thời hạn; hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng; hợp đồng làm việc không xác định thời hạn (kể cả những người được tuyển dụng vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước trước ngày Nghị định số: 116/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp Nhà nước).

- Theo khoản 4 điều 2 Luật BHXH và điều 3  Nghị định số 127/2008/NĐ-CP thìngười sử dụng lao độngtham gia BHTN khi có sử dụng từ 10 lao động trở lên tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp: cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội khác; doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã; hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho NLĐ; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ VN có sử dụng lao động là người Việt Nam (trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước CHXHCN VN là thành viên có quy định khác).

2. Về điều kiện được hưởng chế độ BHTN.

Theo quy định tại điều 81 Luật BHXH, Nghị định 127/2008/NĐ-CP thì có 03 điều kiện để người lao động được hưởng các chế độ BHTN, bao gồm:

- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật;

- Đã đăng ký với cơ quan lao động (cụ thể là Trung tâm Giới thiệu Việc làm thuộc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội nơi làm việc trước đó) khi bị mất việc làm, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc;

- Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động theo quy định.

3. Trợ cấp thất nghiệp.

Mức trợ cấp thất nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 16 của Nghị định số: 127/2008/NĐ-CP cụ thể là bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật.

Trường hợp những tháng cuối cùng trước khi thất nghiệp, người lao động có thời gian gián đoạn đóng bảo hiểm thất nghiệp thì 06 tháng liền kề để tính mức trợ cấp thất nghiệp là bình quân của 06 tháng đóng BHTN trước khi người lao động mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao  động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật.

Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định cụ thể: 03 tháng hưởng BHTN nếu có đủ từ 12 tháng đến dưới 36 tháng đóng BHTN; 06 tháng nếu có đủ từ 72 tháng đến dưới 144 tháng đóng BHTN; 12 tháng nếu có đủ từ 144 tháng đóng BHTN trở lên. Trong thời gian này, người lao động được hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm và sau hai lần từ chối nhận việc làm do tổ chức BHXH giới thiệu mà không có lý do chính đáng thì sẽ bị chấm dứt hưởng trợ cấp.

Ngoài trợ cấp thất nghiệp, người lao động còn được hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm và được hưởng bảo hiểm y tế theo quy định. Cụ thể, mức hỗ trợ học nghề cho người thất nghiệp trong trường hợp này bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định pháp luật về dạy nghề. Thời gian học nghề cho lao động không quá 6 tháng, tính từ ngày lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

4. Các khoản chi từ Quỹ BHTN.

Luật Bảo hiểm xã hội quy định mức đóng BHTN bằng 3% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN. Cụ thể như sau: người lao động đóng 1% ; người sử dụng lao động đóng 1% và Nhà nước sẽ hỗ trợ từ ngân sách bằng 1%. Như vậy, Quỹ BHTN sẽ được hình thành từ các nguồn: từ 3% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN và từ nguồn tiền sinh lãi của hoạt động đầu tư quỹ cùng các nguồn thu hợp pháp khác.

BHTN là loại bảo hiểm áp dụng bắt buộc đối người lao động và người sử dụng lao động theo quy định pháp luật về bảo hiểm. Do đó,người lao động sẽ phải đóng BHTN từ khi còn làm việc cho đến đến khi nghỉ hưu, số tiền này sẽ được quản lý trong quỹ BHTN. Người lao động chỉ được hưởng BHTN khi xảy ra tình trạng thất nghiệp. Các khoản chi từ quỹ BHTN bao gồm:

- Chi trả trợ cấp thất nghiệp (TCTN) hàng tháng cho người lao động được hưởng chế độ BHTN.

- Chi hỗ trợ học nghề cho người lao động đang hưởng TCTN.

- Chi hỗ trợ tìm việc làm cho người lao động đang hưởng TCTN.

- Chi đóng bảo hiểm y tế cho người lao động đang hưởng TCTN hàng tháng.

- Chi phí quản lý BHTN.

- Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định.

Sự ra đời của BHTN (quy định cụ thể trong Luật BHXH có hiệu lực ngày 01/01/2009) ở Việt Nam gắn với giai đoạn đầy khó khăn của nền kinh tế Việt Nam cũng như kinh tế thế giới - giai đoạn chứng kiến nhiều doanh nghiệp phá sản, hàng nghìn lao động rơi vào cảnh thất nghiệp. Sau hơn 03 năm thực hiện, BHTN đã mang lại những thành công nhất định có tác dụng tích cực về mặt kinh tế xã hội nhằm bảo vệ, hỗ trợ những đối tượng lao động thất nghiệp. Đây thực sự là một bước tiến lớn trong con đường phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam nói riêng và nỗ lực đảm bảo an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta nói chung nhằm hỗ trợ một khoản tài chính tạm thời dành cho người đã đi làm và bị cho thôi việc ngoài ý muốn. Do đó, BHTN sẽ góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc.

 

Tin tức - Tuyển dụng khác